(Post 10/07/2010) Vừa qua chương trình Nhân
vật sự kiện Thông tin & Truyền thông - Đài truyền hình kỹ thuật số
VTC đã diễn ra buổi giao lưu với hai vị khách mời là TS. Quách Tuấn Ngọc,
Cục trưởng Cục CNTT - Bộ GD&ĐT, người được xem là thuyền trưởng chèo
lái con thuyền ứng dụng CNTT trong
ngành giáo dục VN và TS. Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng Trường ĐH FPT, hiệu
trưởng một trường ĐH được dư luận đánh giá là có nhiều bước đi táo bạo
trong cả cách thi tuyển lẫn đào tạo.
TS. Lê
Trường Tùng (bìa phải) và TS. Quách Tuấn Ngọc (giữa) đang giao
lưu |
 |
Khi toàn ngành giáo dục được kết nối Internet, dường
như những trăn trở về việc làm thế nào để đưa CNTT tới vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng xa cũng như gánh nặng thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa
các vùng miền... sẽ vơi bớt. Tuy nhiên, điều băn khoăn của các nhà quản
lý làm sao để việc kết nối này hiệu quả nhất, cách thức nào để các học
sinh được lĩnh hội tốt nhất những ứng dụng này trong việc học. Đây là
bài toán lớn chưa có lời giải và đòi hỏi phải có sự vào cuộc quyết liệt
của cả các nhà quản lý, ý thức của học sinh, sự tận tâm của các giáo viên
và các cơ sở giáo dục. Để giải đáp những vấn đề đang rất nóng này, trong
chương trình Nhân vật sự kiện Thông tin & Truyền thông tại trường
quay S4, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC đã diễn ra buổi giao lưu với
hai vị khách mời là Tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc, Cục trưởng Cục CNTT - Bộ
Giáo dục và Đào tạo và Tiến sĩ Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại
học FPT.
Tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc, Cục trưởng Cục CNTT - Bộ Giáo
dục và Đào tạo là người được xem là vị thuyền trưởng đang chèo lái con
thuyền ứng dụng CNTT trong toàn ngành giáo dục Việt Nam hiện nay.
Vị khách mới thứ hai là Tiến sĩ Lê Trường Tùng, Hiệu
trưởng Trường Đại học FPT, hiệu trưởng một trường đại học được dư luận
đánh giá là có nhiều bước đi táo bạo trong cả cách thi tuyển lẫn đào tạo.
Nếu ở phiên bản đầu tiên của chương trình Nhân vật –
Sự kiện Thông tin & Truyền thông, khu vực giao lưu trực tuyến có sự
góp mặt của các nhà báo đến từ Báo điện tử VTC News, Báo điện tử VietNamNet,
Trang tin điện tử ICT News của Báo Bưu điện Việt Nam và trang tin điện
tử MIC của Bộ TT&TT thì ở phiên bản mới này, khu vực giao lưu trực
tuyến có thêm sự góp mặt của các nhà báo đến tử báo điện tử VnMedia –
một trong những tờ báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam. Nhà báo Thủy Nguyên
– Phóng viên CNTT của báo điện tử VnMedia cũng là một nhân vật tham gia
buổi giao lưu với những trao đổi, bình luận xung quanh các câu hỏi của
khán giả/độc giả cũng như của hai vị khách mời.
Có tới hơn 800 câu hỏi của các độc giả gửi tới 3 tờ báo
điện tử và 2 trang tin điện tử. Và phần lớn trong số hơn 800 câu hỏi đó
là những câu hỏi liên quan đến việc thay đổi nhận thức và nâng cao kỹ
năng sử dụng CNTT ngay cả từ những lãnh đạo ngành giáo dục cho đến các
giáo viên, học sinh. Và một câu hỏi mà chúng tôi cho là khá mạnh dạn,
với một vấn đề đưa ra tuy không phải là mới nhưng lại là điều băn khoăn
của rất nhiều người, đặc biệt là trong thời gian này.
“Thưa ông, những ngày gần đây, một số trang mạng
điện tử có đưa tin về việc từ tháng 7/2010, tức là chỉ một vài ngày nữa
thôi, toàn ngành giáo dục sẽ kết nối internet. Thông tin này có đúng không
thưa ông, bởi theo chúng tôi được biết thì dự kiến là phải tới tháng 9
hoặc cuối năm nay thì dự án này mới có thể cán đích???” Đây
là câu hỏi của anh Nguyễn Xuân Tân, một cán bộ công tác trong ngành giáo
dục tại Hòa Bình.
Ông Quách Tuấn Ngọc: Tôi xin nói chính
xác, đến tháng 12/2010, chúng ta mới kết thúc dự án kết nối Internet trong
toàn ngành giáo dục. Tuy nhiên, trên thực tế với sự hỗ trợ của doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ, chúng ta đang nỗ lực hoàn thành. Trong tháng 6, đã triển
khai mua thiết bị kết nối 3G cho các điểm vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên,
vì đang trong dịp tuyển sinh ĐH, CĐ và học sinh đang nghỉ hè nên các trường
phải cử người trực để kết hợp với doanh nghiệpl triển khai lắp đặt thiết
bị.
Thiết bị 3G này không giống như thiết bị bán trên thị
trường cho người tiêu dùng mà được thiết kế có nhiều điểm kết nối để dùng
cả Wifi. Bên đối tác còn phải tính toán lắp đặt sao cho sóng tại điểm
được kết nói phải mạnh nhất. Dự kiến, tháng 9 sẽ hoàn thành toàn bộ việc
kết nối Internet tới tất cả các điểm trường kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn.
Vậy xin hỏi, việc toàn ngành giáo dục kết nối Internet
có đồng nghĩa với việc bài toán thu hẹp khoảng cách giáo dục tại Việt
Nam đã có lời giải không, thưa ông?
Ông Quách Tuấn Ngọc: Có thể nói rằng
ý nghĩa của mạng giáo dục rất lớn. Chúng ta biết ở các điểm trường vùng
sâu, vùng xa, vùng khó khăn, việc tiếp cận với kiến thức mới đặc biệt
là tiếp cận với CNTT là rất khó khăn. Bởi vậy, việc đưa kiến thực hiện
đại hay nói như ngôn ngữ bình thường là xóa bỏ khoảng cách số thì truyền
hình và phát thanh không làm được nhưng Internet làm được. Tôi ví dụ,
hôm nay không phải chúng đang giao lưu mà chúng ta đang giảng bài chẳng
hạn, thì bài giảng này có thể truyền trực tiếp đến các điểm trường trên
cả nước qua hệ thống Internet. Và ở Hà Nội đang tham dự gì và nói những
gì thì ở những điểm đó học cũng có thể nói như vậy.
Bạn đọc nguyenvietdung68@gmail.com hỏi:
Tôi được biết Đại học FPT là môi trường ứng dụng công nghệ trong đào
tạo và học tập khá tốt. Nhưng không biết anh Tùng có công nhận là làm
được điều này thì một phần quan trọng là vì anh đang là hiệu trưởng của
trường FPT – một trường tư thục thuộc sở hữu của một Tập đoàn công nghệ
lớn hay không? Cứ giả sử như anh ở địa vị của tôi, hiệu trưởng của một
trường phổ thông ở Lào Cai – nơi mà cả giáo viên lẫn học sinh đều rất
mù mờ về CNTT thì liệu anh có làm được những điều giống như Đại học FPT
đã làm?
Ông Lê Trường Tùng: Thực ra, việc triển
khai CNTT ở FPT không phải là dễ, trường cũng từng đặt ra mục tiêu toàn
bộ sinh viên của trường có laptop để sử dụng nhưng vẫn chưa hình dung
được ngày nào điều đó sẽ thành hiện thực. Năm 2008, 2 năm sau khi trường
đi vào hoạt động, việc có máy tính cho sinh viên, giảng viên chỉ là bề
nổi vì còn nhiều khó khăn trong bài giảng, hạ tầng, … để CNTT có thể đóng
vai trò quan trọng cho việc dạy và học. Ông cũng thông cảm với băn khoăn
của hiệu trưởng một trường phổ thông ở Lào Cai này khi muốn đưa CNTT phát
huy hiệu quả của trường. Đối với Lào Cai không phải là một nơi quá xa
xôi, lạc hậu trong ứng dụng CNTT. Chẳng hạn như, tỷ lệ các trường ứng
dụng CNTT đối với tiểu học là 6%, THCS là 10% nhưng THPT đã phủ hết. Tuy
nhiên, việc ngay chính vị hiệu trưởng này chưa dùng địa chỉ email của
Bộ GD-ĐT cấp cũng là một trở ngại cho việc phát triển ứng dụng CNTT trong
ngành giáo dục.
Tôi cho rằng câu hỏi của độc giả ở địa chỉ nguyenvietdung68@gmail.com
đã gợi ý cho chúng ta một vấn đề lớn trong việc phát huy hiệu quả của
ứng dụng CNTT trong vấn đề thu hẹp khoảng cách giáo dục. Đó là vấn đề
về nhận thức. Thưa Tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc, việc thay đổi nhận thức của
người dạy và người học đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa
có khó không, thưa ông?
Ông Quách Tuấn Ngọc: Vấn đề nhận thức
từ 10 năm nay chúng tôi đặt lên hàng đầu. Đây là vấn đề vừa dễ, vừa khó
nhưng khó ở thay đổi vì nhận thức không lệ thuộc vào địa bàn, khoảng cách.
Ngay ở những thành phố lớn ở HN, TPHCM cũng có những nhận thức chưa đúng
nên khó triển khai. Còn ở những vùng khó khăn, càng khó khăn họ càng nhận
thức phải bằng mọi cách đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào trường học.
Ở những nơi nhận thức tốt và họ quyết tâm làm mọi việc
Ông Lê Trường Tùng: Thành công trong
việc đưa CNTT vào trường phụ thuộc vào tầm nhìn người lãnh đạo. Hiệu trưởng
không muốn thì Bộ có muốn làm gì cũng khó. Nhận thức phụ thuộc vào chuyện
nhìn mọi việc đúng nếu không rơi vào tình trạng đánh trống bỏ dùi.
Các phóng viên đang hỗ trợ khách
mời tham gia giao lưu với độc giả |
 |
Bạn đọc lehoainam77@yahoo.com hỏi: Nhận
thức và kỹ năng CNTT của các nhà quản lý giáo dục, các giáo viên, học
sinh là điều mà chúng ta đang bàn đến. Đó cũng là những yếu tố quan trọng
trong việc đi tìm lời giải cho bài toán thu hẹp khoảng cách giáo dục tại
Việt Nam. Xin hỏi Tiến sĩ Lê Trường Tùng, Đại học FPT của ông làm thế
nào để các giảng viên và sinh viên hứng thú với những ứng dụng công nghệ
phục vụ việc dạy và học? Nói cách khác, FPT làm thế nào để ứng dụng CNTT
trong giáo dục không còn mang tính hình thức?
Ông Lê Trường Tùng: Để đưa CNTT vào
các trường hiệu quả, trên thế giới đã đúc kết, điều đầu tiên không phải
là hạ tầng mà chính là nội dung, sau đó mới đến hạ tầng và kết nối để
truy cập thông tin. Tình trạng ứng dụng CNTT ở các trường hiện nay không
phải là vấn đề không kết nối. Ví dụ 1 số trường trang bị xong, bị xuống
cấp không sử dụng được. Do đó, ngay ở vấn đề phần cứng chứ chưa phải nội
dung. Đối với hệ thống đào tạo giáo dục nói chung, hiện cũng có nhiều
cuộc thi về giao trình, giáo án điện tử và được các trường hưởng ứng rất
cao. Kinh nghiệm FPT, để ứng dụng và sử dụng CNTT hiệu quả, phải trả lời
được câu hỏi khi triển khai sẽ mang. Còn với FPT, ứng dụng CNTT là khâu
bắt buộc trong việc dạy và học.
Một độc giả ở Tam Nông, Phú Thọ, hỏi:
“Con tôi là học sinh lớp 12. Tôi thấy cháu có nói là Bộ và Sở sẽ lập
cho các học sinh thuộc khối lớp 12 mỗi em một email riêng phục vụ học
tập. Tôi nghĩ, đây là một ý tưởng rất hay nhưng cũng không phải không
có vấn đề vì thực tế tôi thấy con tôi chẳng mấy khi dùng đến hòm thư đó
mà chủ yếu là dùng hòm thư Yahoo hoặc vào mạng Chat với bạn bè. Vậy thì,
phải chăng việc lập email cho các học sinh sẽ chỉ mang tính hình thức?”
Ông Quách Tuấn Ngọc: Tôi xin giải thích,
trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ đầu năm học, Bộ có chỉ đạo Sở thiết
lập email cho tất cả các giáo viên và học sinh lớp 12 dùng cho mục đích
thi cử. Việc này cũng đã được phía đối tác hỏi chúng tôi về hiệu quả sử
dụng, tôi giải thích với phía bạn: Đây như một thói quen giống như ở nhà
bố mẹ gọi con bằng tên gọi thân mật. Sử dụng email của nick chat nó như
thói quen của cả người lớn và giới trẻ ở Việt Nam. Do đó, chúng ta bảo
các em sử dụng một email mang tính nghiêm túc sẽ cần thời gian để các
em thích nghi và thiết lập thói quen mới.
Tôi đưa ra ở đây một ví dụ như Sở GD&ĐT Hậu giang
là một Sở khó khăn nhưng một lúc Sở Hậu Giang đã thiết lập hơn 60 ngàn
account cho học sinh và giáo viên. Đây có thể nói là một việc làm rất
tích cực và thể hiện tinh thần có trách nhiệm của lãnh đạo Sở. Tuy nhiên,
việc dùng email vào trao đổi công việc, bài vở giữa giáo viên và học sinh
còn phụ thuộc vào ý thức của họ. Cũng Sở đấy, trường đấy khi có email
có thể sử dụng để truyền tải thông tin số hóa giáo dục không còn là vấn
đề phải bàn.
Độc giả Lê Thanh Tú ở Đại học Giao thông vận
tải Hà Nội: “Tôi có một cậu bạn đang ở cùng ký túc xá trên
Hà Nội. Bố cậu ta làm Hiệu trưởng một trường phổ thông ở Điện Biên. Một
lần cậu ta khoe với tôi là vừa sắm laptop mới và USB kết nối internet
miễn phí. Hỏi ra mới biết, đó là laptop và USB mà trường của bố cậu ấy
cấp cho một số giáo viên. Vì bố cậu ấy không quen dùng nên ông ta cho
cậu con trai của mình. Tôi muốn hỏi là, Nếu giáo viên nào cũng có máy
tính, có USB truy cập internet mà lại không quen dùng rồi sau đó đem cho
người khác thì hiệu quả từ ứng dụng CNTT trong giáo dục có lẽ chỉ là con
số 0. Các ông đã tính đến chuyện này hay chưa?”
Ông Quách Tuấn Ngọc: Sau khi xem phóng
sự, cá nhân tôi chẳng vui tí nào. Nhưng sự việc này xảy ra ở nhiều nơi.
Chúng ta đã biết ngay từ đầu đây là câu hỏi về nhận thức. Nếu Sở, trường
được trang bị ngay từ đầu mà không sử dụng thì lỗi tại chính trường chứ
không thể đổ cho ai. Khi nhà trường không được trang bị thì kêu với Bộ
là chúng tôi thiếu trang thiết bị, nhưng đến khi cấp cho rồi không đưa
vào sử dụng cho mục đích chung mà sử dụng cá nhân như trường hợp ở trên
thì không nên cấp thiết bị cho các trường như thế. Ở nơi nào hiệu trưởng
thực sự quan tâm sử dụng vào công việc và huy động giáo viên sử dụng vào
công việc là thành công còn không đạt được mục tiêu như vậy là chương
trình triển khai thất bại.
Khi triển khai mạng giáo dục, Bộ đã có chỉ thị hướng
dẫn triển khai, trong đó có nêu rõ không cần nhất thiết phải hợp tác với
Viettel mà các trường có thể tự liên hệ với các doanh nghiệp viễn thông
cũng cung cấp dịch vụ như VNPT...
Quay lại câu hỏi, tôi cho rằng ở nơi nào không có điểm
kết nối, chúng ta phải đi tìm. Trường nào nối được với nhiều doanh nghiệp,
chúng tôi ủng hộ và rất mừng vì như vậy khả năng kết nối sẽ cao hơn. Quan
điểm của Bộ GD&ĐT là dịch vụ của nhà cung cấp nào tốt chúng tôi dùng.
Việc sử dụng máy tính trong trường học quan điểm của
Bộ khuyến khích giáo viên sử dụng CNTT vào chính các môn học, bài giảng
của mình. Tránh việc tập trung máy tính lại và chờ thầy dạy tin học thì
đó lại thành mô hình tin học vì tin học chứ không phải tin học vì môn
học. Nếu hiệu rưởng các trường không năng động thì không triển khai tốt
và không nên cấp máy tính cho các trường đó.
Một bạn đọc hỏi: “Giáo dục điện
tử là một mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới. Nếu xây
dựng được nền giáo dục điện tử hoàn chỉnh thì khoảng cách giáo dục chắc
chắn sẽ không còn là bài toán khó. Với những điều kiện ở Việt Nam, theo
ông, bao giờ thì chúng ta mới có một nền giáo dục điện tử hoàn chỉnh?”
Ông Quách Tuấn Ngọc: Với câu hỏi này,
tôi nghĩ không nên đặt về mặt thời gian. Việc đó, Việt Nam đang nắm trong
tầm tay. Tôi có thể nói với Việt Nam, việc ứng dụng CNTT hướng tới một
nền giáo dục điện tử đang trong tầm tay từ hạ tầng cơ sở viễn thông đến
công nghệ đều đang rất thuận lợi. Về mặt nội dung, chúng ta đang tiếp
cận với nhiều nội dung có thể cung cấp tới từng trường thông qua CNTT.
Cách đây ba năm, khi đi họp trong khu vực thôi, Việt
Nam được các nước đánh giá ngang hàng với Lào, Campuchia. Nhưng mới đây
người ta xếp Việt Nam cùng hàng với Singapore, Malaysia.. và đang xếp
trong nước đang nổi lên.
Tuần trước khi Bộ GD&ĐT tiếp đoàn Nga, và bạn đã
tỏ ra ngạc nhiên khi chúng tôi nói việc kết nối mạng trong hệ thống các
trường học chúng tôi sẽ hoàn thành trong tháng này, tháng sau và chúng
tôi kết nối mạng được đến từng trường mầm non. Phía bạn đã nói rằng chúng
tôi chưa làm được việc đó.
Có thể nói rằng để hoàn thành mục tiêu đưa ứng dụng CNTT
vào giáo dục và đạo tạo, chúng tôi rất cần sự đóng góp của các doanh nghiệp
CNTT, mỗi đơn vị chung một tay như người cơ sở hạ tầng, bên cung cấp công
nghệ…
Tôi xin nói thêm một vấn đề về Game online, đề nghị các
đơn vị truyền thông phải phân loại game online theo các hình thức như
game giáo dục, game vui chơi giải trí…
Ông Lê Trường Tùng: Tôi nghĩ năm 2010,
khi chúng ta nối Internet tới 100% trường phổ thông là một mốc quan trọng.
Khi làm được việc này, thực tế Việt Nam là một trong 50 nước có 100% các
trường được nối mạng. Trong khu vực, chúng ta ngang hàng với Singapore,
Malaysia và trên Indonesia..
Cách đây vài năm máy tính đắt tiền nhưng nay trang bị
máy tính và máy điện thoại như nhau. Việc trang bị server cũng dễ dàng
hơn. Việc tin học hóa các trường là điều quan trọng rút ngắn khoảng cách
giáo dục Việt Nam với thế giới, giữa các địa phương sẽ không còn khoảng
cách về giáo dục nữa dù có khoảng cách về địa lý.
Kinh nghiệm của FPT khi trang bị laptop cho sinh viên,
vấn đề không phải là tiền mà SV ngày nay có máy tính học bài ở nhà, đến
trường có máy tính ở trường, trong hai quãng thời gian đó hai máy tính
này sẽ có thời gian bỏ không. Vậy tôi nghĩ sinh viên có máy tính còn nhà
trường có hạ tầng mạng là chúng ta có sự kết hợp tốt giữa gia đình và
nhà trường đạt hiệu quả cao.
Dương Quảng Hàn -Nam, 35 tuổi, Hà Nội hỏi:
Tôi được biết hiện nay Cục CNTT Bộ Giáo dục có một số phần mềm hỗ
trợ việc quản lý học sinh, giáo viên ... Xin thày cho chúng tôi biết rõ
hơn về ứng dụng của phần mềm này, chúng tôi có thể mua hay tự download
ở đâu? Phạm vi ứng dụng cho loại trường nào (Tiểu học, trung Học hay PTTH)?
Tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc: Phần mềm này
chúng tôi cung cấp miễn phí. Đây là phiên bản cũ vẫn dùng tốt nhưng điểm
yếu của phiên bản này là trường nào biết trường đây. Chúng tôi đang phối
hợp với Viettel xây dựng với phần mềm đổi mới hơn để có thể liên kết tất
cả các trường. Các trường có thể vào địa chỉ: http://edu.net.vn/media.
Trên đây chúng tôi có đầy đủ các thông tin cần thiết liên quan đến ngành
giáo dục, ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở trong nước và quốc tế. Đặc biệt
tại địa chỉ này chúng tôi có nhiều phần mềm quản lý, giảng dạy thiết thực
cho các trường.
Đặng Hoài Thu -Nam, 20 tuổi, Quận Gò Vấp, Tp.HCM
hỏi: Tôi thấy người ta cứ phản đối việc chơi game vì phụ
huynh sợ nó ảnh hưởng không tốt tới học tập của con trẻ. Nhưng nói thật
là nó thực sự rất hấp dẫn giới học sinh sinh viên. Bây giờ, ngay cả trẻ
em ở các tỉnh miền núi cũng biết chơi Game online. Vậy, tại sao chúng
ta lại không đưa Game online vào giáo dục? Vì chúng ta chưa nghĩ tới hay
chúng ta không dám làm? Cần thiết hay không cần thiết đầu tư phát triển
Game trong giáo dục?
TS Quách Tuấn Ngọc: Hiện nay vấn đề
này đang rất nóng bỏng và được dư luận rất quan tâm từ Chính phủ, Quốc
hội và tới các tầng lớp nhân dân.
GO rất hay và rất cuốn hút, như hêrôin, không biết thì
thôi dính vào không thoát ra được, cuốn hút mất thời gian nhưng cho dù
tốt nhưng dính vào mất thời gian. Các doanh nghiệp, nhà cung cấp nội dung
chuyển hướng cung cấp nội dung tích cực, dẹp dần GO mang tính bạo lực.
Bộ Giáo dục đã cùng FPT tổ chức cuộc thi giải toán trên mạng và đã được
hưởng ứng rất cao. Do đó, các nhà cung cấp nội dung phải thay đổi chuyển
sang cung cấp nội dung lành mạnh và hiện các chương trình học tiếng anh
trên mạng đang được triển khai khá hiệu quả. Vì vậy, vấn đề này không
còn là ở quản lý nữa mà là phần các nhà cung cấp nội dung, cung cấp thế
nào để cuốn hút người học.
Các nhà cung cấp phải chuyển hướng, game cũng có tội
nhưng là do các nhà thiết kế nội dung. Nếu nội dung không tốt, thì sẽ
ảnh hưởng rất lớn tới xã hội. Do đó, phải chuyển hướng nội dung game sang
hình thức giáo dục tích cực thì mới game mới không có tội, không bị toàn
xã hội lên án như hiện nay. Ý tưởng hiện nay chúng tôi đang định hướng
là quản lý trực tuyến và học cũng trực tuyến, biện pháp hỗ trợ chứ không
phải thay thế hoàn toàn. Như vậy, các trường ko phải lo đầu tư máy chủ
mà mỗi trường được phân một account quản lý trực tuyến. Mô hình này đang
triển khai. Sổ sách học bạ cũng được quản lý online nên rất tiện, hiệu
trưởng đi công tác cũng không lo công việc ở nhà. Vì mở mạng ra là có
thể truy cập được vào hệ thống quản lý luôn.
Học trực tuyến trên thế giới phát triển dịch vụ E-learning
và M- learning và tiến tới U- learning (người học có thể vào tìm thấy
bài giảng). Bộ Giáo dục đang thi cuộc thi E-learning cho giáo viên, để
tạo nguồn nội dung cung cấp trong tương lai.
TS Lê Trường Tùng: Cái gì thái quá cũng
không tốt, học sinh thường thích chơi hơn là học nhưng tình hình tốt hơn
nếu có sản phẩm chơi mà học và để cuốn hút học sinh không dành nhiều thời
gian cho cuộc chơi vô bổ.
Đối với, FPT đưa ra một công cụ mới cho sinh viên mới
bắt đầu học. Công cụ này giúp sinh viên vừa giải trí nhưng lại giúp họ
nắm được các tư duy trong lập trình. Điều này sẽ tạo môi trường cuốn hút
mọi người học và chơi cũng như nhằm giảm các trò chơi vô bổ chứ không
nên cấm đoán.
Phóng viên VnMedia (trái) trong
buổi giao lưu |
 |
An Khanh -Nam, 21 tuổi, xomtankl35@yahoo.com
hỏi: Xin Tiến sĩ cho biết định hướng đào tạo của Trường Đại
học FPT trong thời gian tới? Trường có ý định liên kết với các trường
đại học danh tiếng khác về công nghệ trên thế giới không? Đó là những
trường nào?
Tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc: Định hướng
quan trọng của FPT là triển khai mạnh đào tạo từ xa và trực tuyến vì với
hạ tầng công nghệ hiện hay cho phép người dân có thể tiếp cận CNTT chất
lượng cao giá rẻ nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thành thị vùng sâu và vùng
xa, giữa Việt Nam và thế giới. Hiện FPT đang chú trọng đào tạo vào các
ngành CNTT đang phát triển như ngành dịch vụ. Hiện dịch vụ đang chuyển
hướng mang hàm lượng CNTT ngày càng cao.
Việc hợp tác của FPT với các trường nước ngoài là một
chiến lược chứ không đơn thuần dạy theo các chương trình nước ngoài. Hiện
nay trường có chương trình hợp tác theo mô hình trao đổi giao viên, sinh
viên, bài giảng,… nhằm bắt kịp các trường tiên tiến trên thế giới. Hiện
trường đã thực hiện hợp tác với các trường ở Mỹ, Anh, Nhật và đang hướng
tới Úc, Singapore.
Nguyễn Xuân Tân -Nam, Cán bộ công tác trong
ngành giáo dục tại Hòa Bình hỏi: “Thưa ông, những ngày gần
đây, một số trang mạng điện tử có đưa tin về việc từ tháng 7/2010, tức
là chỉ một vài ngày nữa thôi, toàn ngành giáo dục sẽ kết nối internet.
Thông tin này có đúng không thưa ông, bởi theo chúng tôi được biết thì
dự kiến là phải tới tháng 9 hoặc cuối năm nay thì dự án này mới có thể
cán đích???”
Tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc: Tôi xin nói
chính xác, đến tháng 12/2010, chúng ta mới kết thúc dự án kết nối Internet
trong toàn ngành giáo dục. Tuy nhiên, trên thực tế với sự hỗ trợ của Viettell
chúng ta đang nỗ lực hoàn thành. Trong tháng 6, Viettel đã triển khai
mua thiết bị kết nối 3G cho các điểm vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, vì
đang trong dịp tuyển sinh ĐH, CĐ và học sinh đang nghỉ hè nên các trường
phải cử người trực để kết hợp với Viettel triển khai lắp đặt thiết bị.
Thiết bị 3G này không giống như thiết bị bán trên thị
trường cho người tiêu dùng mà được thiết kế có nhiều điểm kết nối để dùng
cả Wifi. Bên đối tác còn phải tính toán lắp đặt sao cho sóng tại điểm
được kết nói phải mạnh nhất. Dự kiến, tháng 9 sẽ hoàn thành toàn bộ việc
kết nối Internet tới tất cả các điểm trường kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn.
Nguyễn Xuân Tân -Nam, Cán bộ công tác trong
ngành giáo dục tại Hòa Bình hỏi: Vậy xin hỏi, việc toàn ngành
giáo dục kết nối internet có đồng nghĩa với việc bài toán thu hẹp khoảng
cách giáo dục tại Việt Nam đã có lời giải không, thưa ông?
TS Quách Tuấn Ngọc: Có thể nói rằng
ý nghĩa của mạng giáo dục rất lớn. Chúng ta biết ở các điểm trường vùng
sâu, vùng xa, vùng khó khăn, việc tiếp cận với kiến thức mới đặc biệt
là tiếp cận với CNTT là rất khó khăn. Bởi vậy, việc đưa kiến thực hiện
đại hay nói như ngôn ngữ bình thường là xóa bỏ khoảng cách số thì truyền
hình và phát thanh không làm được nhưng Internet làm được. Tôi ví dụ,
hôm nay không phải chúng đang giao lưu mà chúng ta đang giảng bài chẳng
hạn, thì bài giảng này có thể truyền trực tiếp đến các điểm trường trên
cả nước qua hệ thống Internet. Và ở Hà Nội đang tham dự gì và nói những
gì thì ở những điểm đó học cũng có thể nói như vậy.
Lê Vân -Nam, Tạ Quang Bửu Hà Nội hỏi:
Xin hỏi Tiến Sỹ Lê Trường Tùng, hiện trường FPT đào tạo sinh viên
CNTT có theo quy chuẩn nào không hay chỉ đào tạo theo nhu cầu liên kết
với doanh nghiệp. Những tấm bằng tốt nghiệp của sinh viên FPT ra trường
liệu có được thế giới nhìn nhận khi họ ra nước ngoài xin việc.
TS Lê Trường Tùng: Câu hỏi này rất
xác đáng vì liên quan tới quản lý trường đại học. Bộ GD-ĐT cho các trường
đại học quyền tự chủ nên các trường có thể có các chương trình giảng dạy
riêng. FPT đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế về CNTT, đó là chuẩn ACM (Đại
học CNTT có chuyên ngành gì và mỗi chuyện ngành có những nội dung gì).
FPT dựa theo chuẩn đó, nhưng chỉ dựa vào chuẩn không thì chưa phù hợp
với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Vì ở VN, ngoại ngữ rất quan trọng và
FPT đưa vào như một công cụ. Đa số sinh viên ra đáp ứng nhu cầu dịch vụ
CNTT nên cần tăng thêm ngoại ngữ và kỹ năng mềm. Ở nước ngoài, kỹ năng
mềm dạy ở phổ thông còn VN còn khá yếu. Tiêu chuẩn quốc tế là then chốt
và như thế khi trao đổi với nước ngoài, tiêu chuẩn đó sẽ là mặt bằng chung,
sinh viên ra trường làm ở đâu cũng được. Do đó, ngoài chuẩn sinh viên
Việt Nam cần có kỹ năng mềm,… Hiện FPT đang bị mang tiếng chương trình
quá nặng do không chỉ dựa vào quốc tế mà còn cả ngoại ngữ và kỹ năng mềm.
Vì vậy, đó là điều bắt buộc phải làm vì như thế mới có thể bắt kịp được
các nước khác trên thế giới.
Phạm Trung Chính -Nam, 38 tuổi, Cầu Giấy - Hà
Nội. hỏi: Là người nắm nhiều con số biết nói nhất trong ngành
giáo dục, ngoài những con số biết nói thể hiện sự thành công của việc
ứng dụng CNTT của ngành, ông có thể tiết lộ cho độc giả biết những con
số biết nói ở thái cực ngược lại?
TS Quách Tuấn Ngọc: Tôi có thể nói
câu hỏi này đúng. Ở các số liệu đánh giá chất lượng thi cử chúng ta có
thể suy ra chất lượng giáo dục… Cục CNTT nắm nhiều số liệu và là số liệu
tin cậy. Từ số liệu thi cử, ngành đã ra nhiều kết luận nóng từ năm 2002.
Đứng ở mặt tích cực, những người hoạch định chính sách giáo dục phải nhìn
vào con số thực tế này để có thể hoạch định các chính sách đúng, chính
sách mới phù hợp với phát triển giáo dục Việt Nam. Ví dụ cụ thể tôi có
thể đưa ra ở đây về con số ở thái cực ngược lại. Tôi không đồng tình đặt
chỉ tiêu 450 sinh viên/vạn dân. Tôi nói không nên dùng chỉ tiêu này, nếu
dùng chỉ tiêu này thì giáo dục đúng như QH đánh giá chất lượng bị thả
nổi. Theo các số liệu tính toán của tôi thì mỗi năm chúng ta đưa ra chỉ
tiêu 100 sinh viên/vạn dân. Bởi nếu căn cứ vào chỉ tiêu 450 sinh viên/vạn
dân thì mỗi năm chúng ta phải tuyển sinh 850.000 sinh viên. Vậy mỗi năm
chúng ta lấy đâu ra số sinh viên. Bởi hàng năm, số thí sinh thi tốt nghiệp
THPT cũng chỉ sấp sỉ con số này. Mỗi năm có 1,9 triệu hồ sơ nhưng thực
chất chỉ có khoảng 1,1 triệu thí sinh thi vào ĐH, CĐ qua ba đợt thi của
Bộ tổ chức. Nếu đứng trên chất lượng thì chỉ tiêu này không đảm bảo chất
lượng thí sinh. Bởi vậy theo tôi, chúng ta nên tính toán chỉ tiêu trên
số sinh viên tốt nghiệp/vạn dân mới đúng.
(theo VnMedia) |